Giá lúa gạo hôm nay 01/06: Bước vào tháng 6, thị trường ổn định – gạo chất lượng cao vẫn là điểm sáng

Bước vào ngày đầu tiên của tháng 6/2026, thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tiếp tục duy trì sắc thái thận trọng với giao dịch không quá sôi động. Sau chuỗi biến động trái chiều cuối tháng 5, mặt bằng giá trong ngày 01/06 nhìn chung giữ ổn định so với phiên liền kề, chưa có tín hiệu đột phá rõ nét từ phía nhu cầu mua vào của thương lái và doanh nghiệp.

Cụ thể, lúa IR 50404 tiếp tục giao dịch ổn định ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg, không biến động so với phiên 31/05. Các giống lúa chất lượng cao như OM 18 và Đài Thơm 8 vẫn neo ở mức 6.400 – 6.500 đồng/kg, trong khi OM 5451 dao động từ 5.700 – 5.800 đồng/kg. Giống lúa OM 34 tiếp tục là nhóm có mức giá thấp nhất, dao động ổn định từ 5.100 – 5.200 đồng/kg.

Tình hình nguồn cung: Lúa vụ Đông Xuân muộn tại nhiều địa phương đã về cuối, lượng lúa tươi tại ruộng không còn dồi dào. Nông dân đang ở giai đoạn chuẩn bị và hoàn tất xuống giống vụ Hè Thu 2026, do đó nguồn cung nội địa sẽ tương đối hạn chế trong giai đoạn chuyển tiếp này. Thương lái và doanh nghiệp tiếp tục tâm lý chờ đợi, chưa vội đẩy mạnh thu mua. Riêng nhóm nếp, giá nếp AG tươi tiếp tục dao động từ 6.800 – 7.200 đồng/kg và nếp Long An tươi ở mức 7.800 – 8.000 đồng/kg.

Về phía gạo nguyên liệu và thành phẩm, giá gạo nguyên liệu tiếp tục ổn định: gạo OM 5451 nguyên liệu ở mức 9.550 – 9.650 đồng/kg, gạo IR 504 nguyên liệu dao động 8.400 – 8.550 đồng/kg, gạo OM 18 nguyên liệu từ 8.700 – 8.850 đồng/kg, gạo OM 380 nguyên liệu ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 tiếp tục duy trì ở 10.750 – 10.900 đồng/kg, gạo thành phẩm phổ thông từ 10.000 – 10.100 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, gạo Việt Nam tiếp tục giữ vững mức giá cạnh tranh. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 528 – 532 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động 505 – 520 USD/tấn, gạo trắng 5% tấm đạt 412 – 416 USD/tấn, và gạo thơm 100% tấm ở mức 337 – 343 USD/tấn.

Cập nhật bảng giá lúa tươi mới nhất hôm nay

Dưới đây là bảng giá lúa tươi thu mua tại ruộng ở Đồng bằng sông Cửu Long cập nhật ngày 01/06/2026:

STT Giống lúa Giá mua (đồng/kg)
1 IR 50404 5.500 – 5.600
2 Đài Thơm 8 6.400 – 6.500
3 OM 5451 5.700 – 5.800
4 OM 18 6.400 – 6.500
5 OM 34 5.100 – 5.200
6 OM 4218 6.000 – 6.200
7 Jasmine 6.500 – 6.800
8 ST24-ST25 7.000 – 7.300
9 Nàng Hoa 9 Chưa cập nhật
10 Lúa Nhật 7.200 – 7.500
11 Japonica 6.500 – 6.800

Trong ngày đầu tháng 6, nhóm lúa chất lượng cao như OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức giá 6.400 – 6.500 đồng/kg, dù đã điều chỉnh nhẹ so với mức đỉnh cuối tháng 5. Đây vẫn là nhóm được doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu ưu tiên thu mua. IR 50404 tiếp tục ổn định ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg, cho thấy nhu cầu ổn định từ phía nhà máy chế biến. Giống OM 34 tiếp tục duy trì mức giá thấp nhất nhóm phổ thông, từ 5.100 – 5.200 đồng/kg.

Các yếu tố vĩ mô và thị trường ảnh hưởng đến giá lúa

Tình hình xuất khẩu gạo: Trong nửa đầu tháng 5/2026, Việt Nam đã xuất khẩu 473.000 tấn gạo, đạt 220 triệu USD kim ngạch. Lũy kế từ đầu năm đến 15/5/2026, tổng kim ngạch đạt 1,8 tỷ USD. Philippines tiếp tục là thị trường số 1, chiếm hơn 50% sản lượng và gần 47% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam, với dự báo có thể nhập khẩu đến 5 triệu tấn trong năm 2026. Ngược lại, Indonesia không cấp hạn ngạch nhập khẩu năm 2026 do sản xuất nội địa đạt kỷ lục, khiến xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường này giảm tới 73% – đây là áp lực đáng kể cần theo dõi sát.

Tình hình sản xuất vụ Hè Thu 2026: Toàn vùng ĐBSCL hiện đang bước vào giai đoạn hoàn tất xuống giống vụ Hè Thu 2026. Khung lịch thời vụ tại An Giang bắt đầu từ 10/4 và kết thúc xuống giống vào 20/5; mục tiêu thu hoạch vụ Hè Thu dứt điểm vào cuối tháng 9/2026. Tiến độ gieo sạ tại nhiều địa phương chậm hơn kế hoạch do nắng nóng kéo dài và chi phí vật tư tăng cao. Cục Trồng trọt khuyến cáo hạn chế xuống giống muộn sau 20/6 tại các vùng có nguy cơ thiếu nước cuối vụ. Ngành nông nghiệp tiếp tục thúc đẩy mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp trong khuôn khổ Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao.

Giá phân bón: Sau giai đoạn tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông đầu năm 2026, giá phân bón cuối tháng 5 – đầu tháng 6/2026 bắt đầu hạ nhiệt và giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào hơn. Tham khảo mức giá bán lẻ hiện tại: Phân Urê Phú Mỹ/Ninh Bình dao động 730.000 – 940.000 đồng/bao 50kg, Đạm Cà Mau khoảng 960.000 – 980.000 đồng/bao. NPK 20-20-15 Đầu Trâu/Cò Pháp ở mức 1.050.000 – 1.105.000 đồng/bao, NPK 20-20-15 Song Gianh khoảng 940.000 – 960.000 đồng/bao. DAP các loại (Hồng Hà, Con Cò, Cà Mau) từ 1.280.000 – 1.400.000 đồng/bao 50kg. Dự báo nhu cầu phân bón sẽ tăng mạnh trong tháng 6 khi vụ Hè Thu bước vào giai đoạn bón thúc đẻ nhánh.

Cạnh tranh quốc tế: Ấn Độ tiếp tục nới lỏng chính sách xuất khẩu gạo, tạo áp lực cạnh tranh cho gạo Việt Nam tại các thị trường truyền thống. Tuy nhiên, xuất khẩu Ấn Độ vẫn đối mặt với thách thức từ căng thẳng tại khu vực Tây Á làm tăng chi phí vận tải. Thái Lan chào bán gạo trắng 5% tấm ở mức 440 – 444 USD/tấn, cao hơn gạo cùng loại của Việt Nam, giúp gạo Việt duy trì lợi thế giá cạnh tranh tại các thị trường nhạy cảm về giá.

Nhận định và xu hướng thị trường lúa gạo thời gian tới

Bước vào đầu tháng 6/2026, thị trường lúa gạo ĐBSCL dự kiến tiếp tục trong xu hướng giao dịch chậm và thận trọng trong ngắn hạn, do nguồn cung lúa Đông Xuân đã vơi dần và vụ Hè Thu chưa cho thu hoạch. Mặt bằng giá lúa tươi khó có đột biến lớn theo hướng tăng trong giai đoạn này khi sức mua từ thương lái còn yếu.

Điểm tích cực là gạo xuất khẩu chất lượng cao, đặc biệt gạo Jasmine và gạo thơm, tiếp tục được hỗ trợ bởi nhu cầu ổn định từ Philippines và các thị trường Đông Nam Á. Các doanh nghiệp chế biến gạo cần tận dụng giai đoạn nguồn cung hạn chế để duy trì chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu từ các đối tác nhập khẩu.

Người nông dân cần theo dõi sát lịch thời vụ Hè Thu, áp dụng các mô hình canh tác tiết kiệm chi phí (3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm) và lựa chọn giống chất lượng cao (OM 18, OM 5451, Đài Thơm 8, ST24-ST25) để đảm bảo giá bán có lợi nhất vào cuối vụ.