Tóm tắt nhanh ngày 15/06: Lúa IR 504 5.500 – 5.600 đ/kg | Gạo Jasmine XK 509 – 513 USD/tấn | Trung Quốc cấp hạn ngạch xuất khẩu 1,5 triệu tấn Ure, kỳ vọng hạ nhiệt giá phân bón nhập khẩu và giảm chi phí sản xuất vụ Hè Thu
Diễn biến thị trường lúa gạo hôm nay
Thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong phiên cuối tuần ngày 15/06/2026 duy trì trạng thái ổn định và trầm lắng. Hoạt động giao dịch mua bán lúa gạo tại các địa phương trọng điểm như An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp diễn ra chậm do đây là ngày Chủ nhật, phần lớn các kho thu mua và nhà máy xay xát hoạt động cầm chừng. Nông dân vẫn giữ tâm lý neo giá lúa tươi ở mức cao, trong khi thương lái tiếp tục thận trọng chờ đợi tín hiệu mới từ thị trường xuất khẩu trước khi chốt hợp đồng thu mua lúa Hè Thu chính vụ.
Cụ thể tại ruộng, giá lúa tươi không ghi nhận biến động mới so với phiên trước. Giống lúa IR 50404 duy trì ổn định trong khoảng 5.500 – 5.600 đồng/kg. Lúa thơm chất lượng cao OM 18 giữ mức 6.400 – 6.500 đồng/kg, giống Đài Thơm 8 dao động 6.400 – 6.500 đồng/kg. Lúa OM 5451 ổn định ở mức 5.700 – 5.800 đồng/kg, lúa OM 34 tiếp tục giữ mức 5.100 – 5.200 đồng/kg. Tại các tỉnh miền Tây, diện tích lúa Hè Thu gieo cấy sớm đang bước vào giai đoạn thu hoạch rải rác, nhưng khối lượng chưa đủ lớn để tạo áp lực đáng kể lên mặt bằng giá.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam cập nhật đến giữa tháng 6/2026 nhìn chung ổn định với xu hướng phân hóa nhẹ giữa các chủng loại. Gạo Jasmine xuất khẩu duy trì mức 509 – 513 USD/tấn, giảm nhẹ so với mức 515 – 519 USD/tấn đầu tháng nhưng vẫn neo ở vùng giá tốt. Gạo trắng 5% tấm ổn định ở mức 411 – 415 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 485 – 495 USD/tấn. Để so sánh, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan chào bán ở mức 459 – 466 USD/tấn, trong khi Ấn Độ cạnh tranh mạnh với giá 340 – 347 USD/tấn. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 4,5 triệu tấn gạo, thu về 2,09 tỷ USD, tăng 6,6% về lượng nhưng giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025 do giá bình quân giảm 9,6% xuống còn 467,6 USD/tấn.
Đối với thị trường gạo nội địa tại ĐBSCL, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 – 8.800 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 5451 giữ mức 9.550 – 9.650 đồng/kg. Gạo nguyên liệu OM 18 đi ngang quanh mức 8.700 – 8.850 đồng/kg, gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.150 – 9.450 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 giao dịch ở mức 9.100 – 9.300 đồng/kg, tăng nhẹ 100 đồng/kg so với phiên trước. Gạo thành phẩm IR 504 thu mua phổ biến trong khoảng 10.750 – 10.900 đồng/kg. Giá phụ phẩm đi ngang, cám khô dao động 7.700 – 7.900 đồng/kg, tấm thơm giữ mức 7.800 – 7.900 đồng/kg.
Cập nhật bảng giá lúa tươi mới nhất hôm nay
Dưới đây là bảng giá lúa tươi thu mua tại ruộng ở Đồng bằng sông Cửu Long cập nhật ngày 15/06/2026:
| STT | Giống lúa | Giá mua (đồng/kg) |
|---|---|---|
| 1 | IR 50404 | 5.500 – 5.600 |
| 2 | Đài Thơm 8 | 6.400 – 6.500 |
| 3 | OM 5451 | 5.700 – 5.800 |
| 4 | OM 18 | 6.400 – 6.500 |
| 5 | OM 34 | 5.100 – 5.200 |
| 6 | OM 4218 | 6.000 – 6.200 |
| 7 | Jasmine | 6.500 – 6.800 |
| 8 | ST24-ST25 | 7.000 – 7.300 |
| 9 | Nàng Hoa 9 | 6.500 – 6.800 |
| 10 | Lúa Nhật | 7.200 – 7.500 |
| 11 | Japonica | 6.500 – 6.800 |
Trong phiên cuối tuần hôm nay, thị trường lúa tươi tại ĐBSCL duy trì trạng thái cân bằng với giao dịch khá thưa thớt. Nhóm lúa đặc sản ST24-ST25 và lúa Nhật tiếp tục giữ vững mức giá cao nhất từ 7.000 – 7.500 đồng/kg nhờ nguồn cung khan hiếm và chất lượng gạo thơm vượt trội. Các giống lúa thơm OM 18 và Đài Thơm 8 ổn định ở mức 6.400 – 6.500 đồng/kg. Giống lúa OM 34 vẫn ghi nhận mức giá thấp nhất ở 5.100 – 5.200 đồng/kg. Hoạt động thu mua lúa non Hè Thu chính vụ vẫn ở trạng thái thăm dò, các thương lái chờ vụ thu hoạch rộ dự kiến cuối tháng 6 để chốt giá.
Xem thêm video : Giá lúa gạo hôm nay 15.06
Các yếu tố vĩ mô và thị trường ảnh hưởng đến giá lúa
Giá vật tư nông nghiệp hôm nay
Giá phân bón tại các tỉnh ĐBSCL trong giữa tháng 6/2026 duy trì ổn định, nhưng đang xuất hiện tín hiệu hạ nhiệt nhẹ nhờ Trung Quốc nới lỏng hạn ngạch xuất khẩu Ure:
- Phân Ure Cà Mau: 660.000 – 690.000 đồng/bao 50kg
- Phân Ure tại thị trường phía Nam: 1.030.000 – 1.050.000 đồng/bao 50kg
- Phân NPK 20-20-15 Bình Điền: 940.000 – 980.000 đồng/bao 50kg
- Phân NPK 16-16-8 Đầu Trâu: 780.000 – 820.000 đồng/bao 50kg
- Phân NPK 16-16-8 Cà Mau: 700.000 – 750.000 đồng/bao 50kg
- Phân NPK 18-8-18 Cà Mau: 720.000 – 750.000 đồng/bao 50kg
- Phân DAP Đình Vũ: 750.000 – 790.000 đồng/bao
Chính sách & Sự kiện nông nghiệp nổi bật
Điểm nổi bật nhất trong tuần là thông tin Trung Quốc chính thức cấp hạn ngạch xuất khẩu trở lại khoảng 1,5 triệu tấn Ure sau thời gian siết chặt từ quý 1/2026. Động thái này được kỳ vọng sẽ giúp hạ nhiệt giá phân bón toàn cầu và giảm áp lực chi phí đầu vào cho nông dân Việt Nam, nhất là trong bối cảnh vụ Hè Thu đang bước vào giai đoạn chăm sóc tốn kém nhất. Trung Quốc hiện là nguồn cung phân bón lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 48% tổng lượng nhập khẩu trong năm 2025.
Song song đó, từ ngày 01/07/2026, Việt Nam sẽ chính thức phân cấp thẩm quyền cấp chứng nhận gạo thơm xuất khẩu sang EU và Vương quốc Anh cho UBND cấp tỉnh (thay vì Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Chính sách này nhằm cải cách thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và thời gian, tăng tính chủ động cho các địa phương có vùng nguyên liệu lúa gạo lớn như An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang trong việc đẩy mạnh xuất khẩu gạo thơm vào thị trường châu Âu.
Ngoài ra, ngành đang đẩy nhanh tiến độ nhập 300.000 tấn gạo vào kho dự trữ quốc gia theo kế hoạch năm 2026, góp phần ổn định giá lúa gạo nội địa và tạo sàn giá hỗ trợ cho nông dân trong giai đoạn thu hoạch Hè Thu sắp tới.
Nhận định và xu hướng thị trường lúa gạo thời gian tới
Trong ngắn hạn, giá lúa tươi tại ruộng được nhận định sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp ở mức hiện tại. Khi vụ Hè Thu bước vào giai đoạn thu hoạch rộ từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7, nguồn cung lúa tươi tăng nhanh sẽ tạo áp lực điều chỉnh nhẹ lên giá lúa nội địa. Tuy nhiên, ba yếu tố hỗ trợ vững chắc ngăn đà giảm sâu gồm: (1) nhu cầu nhập khẩu gạo ổn định từ Philippines (chiếm gần 47% thị phần) và Trung Quốc; (2) chương trình mua dự trữ quốc gia 300.000 tấn gạo; và (3) nguy cơ El Niño từ tháng 7/2026 có thể ảnh hưởng nguồn cung toàn cầu, hỗ trợ giá gạo xuất khẩu neo cao.
Bà con nông dân nên tận dụng giai đoạn giá phân bón có tín hiệu hạ nhiệt để tối ưu chi phí chăm sóc lúa Hè Thu chính vụ. Đồng thời, khuyến nghị duy trì gieo trồng các giống lúa thơm chất lượng cao OM 18, Đài Thơm 8 và ST25 vì chênh lệch giá bán so với IR 50404 vẫn đạt 900 – 1.100 đồng/kg, đảm bảo hiệu quả kinh tế vượt trội.

